PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ KHE HỞ MÔI VÀ BIẾN DẠNG MÔI – MŨI (SẸO XẤU MÔI – MŨI) SAU PHẪU THUẬT KHE HỞ MÔI

96851c7261ced34835dff65a3382cf19dd8da65e Bệnh viện Trường Đại học Y Khoa Vinh
06.03.2026

      Theo nhiều nghiên cứu, khe hở môi – vòm miệng (KHM – VM) là dị tật bẩm sinh vùng hàm mặt thường gặp ở Việt Nam cũng như trên thế giới. Trên thế giới, trong số trẻ mới sinh tỷ lệ mắc dị tật này giao động từ 1/600 ¬– 1/1000. Ở Việt Nam, tỷ lệ này khoảng 0,1 - 0,2%. Ước tính hàng năm, có khoảng 1500 - 3000 trẻ mới sinh mắc dị tật này trong đó khoảng trên 70% bị khe hở môi (có thể một bên hoặc hai bên, có thể đơn thuần hoặc kết hợp khe hở vòm miệng).

      Khi bị khe hở môi – vòm miệng, trẻ bị ảnh hưởng lớn tới chức năng và thẩm mỹ. Trẻ dễ mắc các bệnh đường hô hấp, ăn uống thường bị sặc, đặc biệt là rối loạn phát âm, ảnh hưởng lớn tới thẩm mỹ làm cho trẻ luôn mặc cảm, tự xa lánh khỏi cộng đồng.

      Để điều trị những ảnh hưởng do dị tật khe hở môi - vòm miệng gây ra, đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp (điều trị các bệnh về tiêu hoá, hô hấp, các bệnh tai mũi họng, luyện phát âm…). Trong đó, phẫu thuật tạo hình môi là biện pháp cơ bản nhất.

      Từ trước tới nay, đã có nhiều phương pháp phẫu thuật tạo hình môi được sử dụng: phương pháp Veau (1861), Tenison (1958), Millard (1957)…. Nhìn chung, các phương pháp đều phải đạt được các mục tiêu: đóng kín khe hở, đảm bảo thẩm mỹ và chức năng. Tuy nhiên, mỗi phương pháp có ưu điểm và nhược điểm riêng. Vì vậy, nhiều tác giả đã đưa ra những cải tiến để khắc phục nhược điểm và hạn chế tối đa những biến dạng xấu có thể xẩy ra sau phẫu thuật. 

      Khi bị dị tật này, trẻ thường được phẫu thuật vào giai đoạn đầu đời nhưng kết quả điều trị không phải bao giờ cũng duy trì được suốt cuộc đời, những biến dạng đặc trưng của khe hở môi thậm chí cũng trở nên nặng nề thêm theo sự phát triển của trẻ. Chính vì vậy, cần áp dụng phương pháp phẫu thuật phù hợp với từng ca bệnh để hạn chế biến dạng và đánh giá chính xác kết quả sau phẫu thuật của người bệnh, từ đó đưa ra các biện pháp xử lý, khắc phục những vấn đề còn tồn tại là đặc biệt quan trọng.

      Chính vì thế, chúng tôi đã thực hiện nhiều đề tài nghiên cứu khoa học về phẫu thuật điều trị khe hở môi – vòm miệng trong đó có hai đề tài nghiên cứu áp dụng rất có giá trị trong phẫu thuật khe hở môi đó là:    
 - Nghiên cứu ứng dụng phương pháp Millard cải tiến trong phẫu thuật điều trị khe hở môi trên toàn bộ bẩm sinh. 
 - Đánh giá kết quả phẫu thuật điều trị biến dạng môi mũi sau phẫu thuật khe hở môi trên toàn bộ bẩm sinh.

BSCKII. Lê Xuân Thu      
Thầy thuốc ưu tú – Bác sỹ cao cấp

MỘT SỐ HÌNH ẢNH KHE HỞ MÔI ĐƯỢC PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ THEO PHƯƠNG PHÁP MILLARD CẢI TIẾN

1. BN Nguyễn Bá D., 10 tháng

11111

Trước mổ                                               Sau mổ ngày thứ 6  

2. Trương Anh Đ., 7 tháng

2222

Trước mổ                                      Sau mổ ngày thứ 5    

3. Phan Thị Thuỳ Tr.,14 Tháng

33333

Trước mổ                                       Sau mổ ngày thứ 7

4. Nguyễn Phúc L., 03 tháng.

44444

 Trước PT                                              Sau PT ngày thứ 7  

5. Nguyễn Gia B., 04 tháng.

5555

Trước PT                                          Sau PT ngày thứ 5  

6. Lê Hậu Ph., 06 tháng.  

66666

Trước PT                                    Ngày thứ 5 sau phẫu thuật

MỘT SỐ HÌNH ẢNH BỆNH NHÂN ĐƯỢC PHẪU THUẬT ĐIỀU TRỊ BIẾN DẠNG MÔI- MŨI SAU PHẪU THUẬT KHE HỞ MÔI

1. Lê Văn L. phẫu thuật sửa mũi.

7777

Trước mổ                                                           Sau mổ

2. Võ Thị Q. phẫu thuật kéo dài da môi và vách ngăn mũi.

8888

Trước mổ                                                        Ngay sau mổ

3. Phạm Văn H. phẫu thuật sửa môi và mũi.

9999

Trước mổ                                                              Sau mổ

Thông tin tư vấn

Họ và tên là bắt buộc!

Số điện thoại là bắt buộc!

Số điện thoại không đúng định dạng!