Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư
Từ cuối thế kỷ 19, những tiến bộ vượt bậc trong hiểu biết về miễn dịch và ung thư đã dẫn đến sự ra đời của một loạt các phương pháp điều trị mới được nghiên cứu trên nhiều bệnh ung thư khác nhau, gọi chung là liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư.
THẾ NÀO LÀ LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH ĐIỀU TRỊ UNG THƯ?
Từ cuối thế kỷ 19, khi bác sĩ William Coley, phát hiện ra việc tiêm các vi khuẩn chết vào khối ung thư phần mềm (sarcoma) giúp co nhỏ khối u. Kể từ đó, những tiến bộ vượt bậc trong hiểu biết về miễn dịch và ung thư đã dẫn đến sự ra đời của một loạt các phương pháp điều trị mới được nghiên cứu trên nhiều bệnh ung thư khác nhau, gọi chung là liệu pháp miễn dịch điều trị ung thư.
Liệu pháp miễn dịch trong điều trị ung thư là phương pháp sử dụng các thành phần trong hệ miễn dịch của con người để chống lại các tế bào ung thư, có hiệu quả khác nhau tùy vào loại ung thư. Chúng có thể được sử dụng đơn độc hoặc kết hợp với các phương pháp điều trị khác trong điều trị một số bệnh ung thư khác nhau. Liệu pháp miễn dịch là một bước tiến lớn trong điều trị bệnh ung thư hiện nay.

HỆ MIỄN DỊCH VÀ KHỐI U
Hệ miễn dịch là một tập hợp các cơ quan, các tế bào, dịch thể đặc biệt và các chất có vai trò bảo vệ cơ thể khỏi nhiễm trùng và một số bệnh khác. Các tế bào miễn dịch và các sản phẩm do chúng tạo ra sẽ di chuyển trong cơ thể để bảo vệ cơ thể khỏi tác nhân ngoại lai như virus hay vi khuẩn, nấm... thậm chí là sự hình thành ung thư theo nhiều cơ chế đã được nghiên cứu.
Chức năng chính của hệ thống miễn dịch là phân biệt những cái gì của cơ thể và không phải của cơ thể. Khả năng phân biệt đó là rất cần thiết để bảo vệ cơ thể chống các tác nhân xâm nhập và loại bỏ các tế bào của bản thân đã bị thay đổi (ví dụ các tế bào ác tính). Tuy nhiên, hệ miễn dịch sẽ gặp khó khăn hơn khi nhắm tới các tế bào ung thư. Điều này là do ung thư bắt nguồn từ các tế bào bình thường, khỏe mạnh bị biến đổi và phát triển ngoài tầm kiểm soát. Đôi khi, hệ miễn dịch không xem tế bào ung thư là thành phần ngoại lai vì tế bào này không đủ khác biệt so với tế bào bình thường. Đôi khi, hệ thống miễn dịch nhận ra tế bào ung thư, nhưng phản ứng có thể không đủ mạnh để tiêu diệt ung thư. Ngoài ra, bản thân các tế bào ung thư cũng có thể tạo ra các chất ngăn hệ miễn dịch phát hiện và tấn công chúng.
Để khắc phục hạn chế này, các nhà nghiên cứu đã tìm ra cách giúp hệ miễn dịch nhận biết tế bào ung thư và tăng cường phản ứng để tiêu diệt ung thư.
CÁC LOẠI LIỆU PHÁP MIỄN DỊCH ĐIỀU TRỊ UNG THƯ HIỆN NAY
Dưới đây là một số loại liệu pháp miễn dịch chính được sử dụng để điều trị ung thư, bên cạnh đó cũng có nhiều loại đang được nghiên cứu.
Thuốc ức chế điểm kiểm soát: Khi tế bào ở trạng thái bình thường, hệ miễn dịch của cơ thể chúng ta phụ thuộc vào các “điểm nhận biết” hoặc “điểm dừng miễn dịch” để tránh sự hoạt hóa quá mức hệ miễn dịch. Tế bào ung thư thường tận dụng các điểm nhận biết này để lẩn tránh sự phát hiện của hệ miễn dịch trong cơ thể.
- CTLA-4 (cytotoxic T lymphocyte antigen) như một nút tắt làm ức chế các tế bào T, khiến giảm thiểu đáp ứng miễn dịch. Từ năm 1996 Jim Allison khám phá và đề xuất khóa CTLA4 nhằm điều trị ung thư.
- PD-1 (programmed cell death 1) có trên bề mặt các tế bào T được phát hiện năm 2000. Đã có một số thuốc được chế tạo để ức chế PD-1, cho phép các tế bào T tấn công khối u.
- PD-L1 (programmed cell death ligan 1) có trên bề mặt tế bào ung thư đến gắn vào PD-1 khiến các tế bào T không giết các tế bào ung thư. Hầu hết các ung thư người biểu hiện PD-L1. Biểu hiện cao PD-L1 đi với bệnh diễn tiến ác tiên lượng xấu và sống còn thấp.
Ức chế các “điểm nhận biết” hay “giải phóng các hàng rào ngăn cản” là một liệu pháp hiệu quả có thể nâng cao khả năng đáp ứng của tế bào T và giúp cho các tế bào hệ miễn dịch tấn công các tế bào ung thư hiệu quả hơn.
- Ipilimumab là một thuốc ức chế CTLA-4 giúp kéo dài thời gian sống thêm trong ung thư hắc tố di căn. Ngoài ra, ipilimumab còn được phê duyệt trong điều trị bổ trợ ung thư hắc tố nguy cơ cao, ung thư thận, ung thư đại trực tràng, ung thư gan, ung thư phổi...
- Nivolumab và pembrolizumab là các chất ức chế IgG4 PD-1 làm tăng kích hoạt tế bào T và xâm nhập khối u trong ung thư hắc tố, ung thư phổi không phải tế bào nhỏ, ung thư biểu mô tế bào vảy ở đầu và cổ, ung thư thận, ung thư bàng quang và U lympho Hodgkin, ung thư dạ dày, ung thư thực quản... Các thử nghiệm lâm sàng tiếp tục về việc sử dụng các loại thuốc này trong điều trị các bệnh ung thư khác.
- Atezolizumab, ức chế PD-L1, được nghiên cứu cho thấy có hiệu quả trên ung thư vú, ung thư gan, ung thư phổi, ung thư bàng quang…

Liệu pháp tế bào lympho T chứa thụ thể kháng nguyên dạng khảm (CAR): Tế bào T là tế bào miễn dịch chống nhiễm trùng. Trong liệu pháp tế bào T, các tế bào này được lấy ra từ máu bệnh nhân. Sau đó, việc thay đổi cấu trúc của chúng sẽ được thực hiện trong phòng thí nghiệm để có các protein, còn gọi là các thụ thể. Các thụ thể cho phép tế bào T nhận ra các tế bào ung thư. Sau khi được thay đổi, các tế bào T được đưa trở lại cơ thể bệnh nhân. Khi đó, chúng sẽ thực hiện công việc tìm kiếm và tiêu diệt các tế bào ung thư. Tế bào CAR-T hiện đang được sử dụng cho bệnh nhân u lympho không Hodgkin tế bào B, u lympho tế bào Mantle, u lympho thể nang, bệnh bạch cầu nguyên bào lympho cấp tính (Acute Lymphoblastic Leukemia) tái phát hoặc kháng trị.

Cytokine: Cytokine là những protein được sản xuất từ chính các tế bào của cơ thể, đóng vai trò quan trọng trong đáp ứng miễn dịch nguyên phát của cơ thể và cũng có khả năng gây đáp ứng miễn dịch với các tế bào ung thư. Có hai loại cytokine được dùng trong điều trị ung thư được gọi là Interferons và Interleukins. Hai loại cytokine thường gặp nhất là interleukin 2 (IL-2) và interferon α (IFN-α), có tác dụng điều hòa đáp ứng miễn dịch.
Vaccine ung thư: Vaccine trước đây thường được hiểu là một liệu pháp phòng bệnh truyền nhiễm thông qua cơ chế miễn dịch kháng nguyên kháng thể. Cụ thể, một người được tiêm kháng nguyên giảm độc lực của tác nhân gây bệnh để kích thích đáp ứng miễn dịch đặc hiệu và mạnh mẽ của cơ thể trong các lần nhiễm sau. Ngày nay, trong lĩnh vực ung thư, khái niệm vaccine còn có ý nghĩa và vai trò điều trị, nghĩa là làm tăng đáp ứng của hệ miễn dịch với các tế bào ung thư. Các vaccine có nguồn gốc từ các tế bào miễn dịch, được thiết kế, nuôi dưỡng và huấn luyện ngoài cơ thể rồi truyền lại cho cơ thể chủ để sao cho có thể điều hòa và làm tăng đáp ứng hệ miễn dịch của bệnh nhân chống lại các kháng nguyên của tế bào ung thư. Một liệu pháp vaccine được FDA phê duyệt là sipuleucel-T trong điều trị ung thư tiền liệt tuyến di căn kháng cắt tinh hoàn.
Virus oncolytic: Sử dụng virus biến đổi gen để tiêu diệt các tế bào ung thư. Đầu tiên, bác sĩ tiêm virus vào khối u. Sau đó, virus xâm nhập vào các tế bào ung thư và tạo ra các bản sao của chính nó. Kết quả là các tế bào vỡ ra và chết. Khi các tế bào chết, chúng giải phóng ra các kháng nguyên. Điều này kích hoạt hệ thống miễn dịch của bệnh nhân. Virus chỉ nhằm vào tất cả các tế bào ung thư trong cơ thể có cùng các kháng nguyên đó mà không xâm nhập vào các tế bào khỏe mạnh. Cụ thể, talimogene laherparepvec (T-Vec), một virus HSV biến đổi gen, đã được nghiên cứu cho thấy hiệu quả lâm sàng ấn tượng trên bệnh nhân ung thư hắc tố tiến triển.
